Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

Picasso - cuộc đời, những bức họa và kỷ lục gây tranh cãi

Pablo Ruiz Picasso (1881-1973) danh họa bậc nhất thế kỷ 20

Pablo Picasso được các nhà chuyên môn đánh giá là hoạ sĩ vĩ đại nhất thế kỷ XX. Ông cũng là người có tuổi thọ thuộc vào loại cao nhất trong số các hoạ sĩ. Pablo Picasso sinh ngày 25 tháng 10 năm 1881 tại Malaga, nước Tây Ban Nha và qua đời ngày 8 tháng 4 năm 1973 tại Mougins (Alpes-Maritimes) nước Pháp. Tên của ông, nếu gọi đầy đủ là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno Crispin Crispiniano de la Santisima Trinidad Ruiz Blasco Picasso y Lopez - cũng thuộc vào loại dài nhất.





Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất trên thế giới của thế kỉ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.


Pablo Picasso sinh ra tại Malaga – một miền đất phía Nam của Tây Ban Nha. Gia đình Picasso thuộc dòng dõi quý tộc. Cha của Picasso là ông Jose Ruiz Blaxco – một giáo sư dạy Mỹ thuật và mẹ là bà Maria Picasso Lopez, một phụ nữ dịu dàng, đảm đang. Theo truyền thống Tây Ban Nha, Picasso mang họ mẹ.


Thừa hưởng “zen hội hoạ” của thân phụ, ngay từ niên thiếu, Picasso đã tỏ ra là một “thần đồng mỹ thuật”. Mới 3-4 tuổi Picasso đã biết vẽ và 5 tuổi đã vẽ khá nhiều tranh với một trí tưởng tượng kỳ lạ. Khoảng 7 tuổi Pablo đã được thân phụ dạy học môn hình hoạ.


Năm 1895, mới 14 tuổi, Picasso đã thi đậu và Trường Cao đẳng Mỹ thuật Barcelona với kết quả điểm ưu. Thậm chí từng có giai thoại rằng: Thời gian của bài thi là 1 tháng nhưng Picasso chỉ làm trong 1 ngày.


Mới học năm thứ nhất, Picasso đã tham gia Triển lãm Mỹ thuật thủ đô Madrid. Tại triển lãm, tác phẩm “ Khoa học và lòng nhân ái” của chàng hoạ sĩ trẻ Picasso đã được trao bằng danh dự. Sau đó, tại Triển lãm Mỹ thuật Malaga, tác phẩm trên đã đoạt Huy chương vàng. “Sự kiện” này đã làm cho Pablo Picasso nổi tiếng khắp Tây Ban Nha.


Một năm sau (1897), Picasso trở thành sinh viên Học viện Hoàng gia Fernando. Tuy vậy, lối đào tạo kinh viện của Học viện Hoàng gia không làm hấp dẫn chàng sinh viên Picasso bằng “Âm vang Mỹ thuật” từ Paris (Pháp) – “Kinh đô” của nghệ thuật.


Tháng 10/1899, Picasso sang Pháp và năm 1904, ông chính thức sống, sáng tác tại đây. Cũng chính tại Paris, tài năng của Picasso ngày càng phát triển và lan toả khắp thế giới.


Các nhà nghiên cứu nghệ thuật đã chia sự nghiệp sáng tác của Picasso làm 3 giai đoạn chính, gồm: Màu Lam (Blue Period), Màu Hồng (Rose Period) và Lập Thể (Cubisme).


Giai đoạn Lam của Picasso diễn ra vào khoảng từ năm 1901-1904. Những bức tranh của Picasso giai đoạn này thường là gam “màu lạnh”, trầm buồn với hình ảnh “Những người cùng khổ” như: “Xẩm già khốn khổ”, “Chân dung một phụ nữ trẻ”, “Cuộc gặp gỡ”…



The Tragedy


Do trạng thái của tâm hồn, do sự gợi cảm, Picasso đã dùng màu Xanh để diễn tả tình cảm bi quan của ông vào cuối thế kỷ, thời kỳ u ám sống với thiếu thốn, đói khát và lạnh giá tại một nơi xa quê hương ấm áp.




Giai đoạn Hồng diễn ra từ khoảng năm 1904-1906, với những bức tranh vẽ về các nghệ sĩ xiếc, nhào lộn, nhất là hình tượng anh hề Arlequin.



The family of saltimbanques




Giai đoạn Lập Thể bắt đầu từ năm 1907 với tác phẩm “Những cô gái ở Avignion” (Les Demoiselles). Đây là tác phẩm được coi là “quả bom” làm chấn động cả thành Paris và mở đầu cho một trào lưu nghệ thuật mới.



Trong tranh, Picasso thể hiện 5 cô gái đứng, ngồi, xoay chuyển. Song, 5 cô gái không còn mềm mại, duyên dáng, lả lướt như tranh cổ điển, mà thay vào đó là những đường kỷ hà xộc xệch, góc cạnh. Toàn bộ những quy tắc về giải phẫu, phép viễn cận, quy luật ánh sáng, hài hoà… của hội hoạ cổ điển đều bị Picasso khước từ, loại bỏ.

Kể từ đây, cùng với Braque, Picasso đã đưa Trường phái Lập Thể lên tột đỉnh vinh quang và tạo nên tiếng vang chưa từng có trong lịch sử Mỹ thuật thế giới.

Pablo Picasso là hoạ sĩ vẽ nhiều tranh về phụ nữ. Hầu hết những người mẫu trong tranh đều là vợ hay những người bạn tình của hoạ sĩ. Hình ảnh những người phụ nữ trong tranh của hoạ sĩ là tấm gương phản chiếu cảm xúc và niềm đam mê của ông và cũng chính họ là nguyên nhân tác động đến quá trình sáng tạo, dẫn đến những thay đổi về màu sắc và phong cách của ông qua các thời kỳ. Theo các tư liệu, người ta biết đến bảy người phụ nữ đã bước vào cuộc đời của hoạ sĩ, đó là: người mẫu Madeleine, người tình Fernande, nữ diễn viên balê Olga Kokhlova, người mẫu tóc vàng Marie Walter, người phụ nữ trí thức Dora Maar, người phụ nữ có mái tóc đen huyền Françoise và nữ cố vấn Jacqueline Roque. Trong số họ, nữ diễn viên balê người Nga Olga Kokhlova là người vợ chính thức đầu tiên và Jacqueline Roque là người vợ chính thức cuối cùng. Khi cưới Jacqueline Roque, hoạ sĩ đã ở vào tuổi 80. Chỉ riêng Jacqueline, ông đã vẽ hơn 200 bức chân dung. Tác phẩm “Cô gái đứng trước gương” được Picasso sáng tác vào năm 1932. Căn cứ vào thời gian ra đời của tác phẩm, thì có thể cô vợ người Nga Olga Kokhlova đã làm mẫu cho hoạ sĩ thực hiện tác phẩm này. Đây là thời kỳ mà trong cuộc sống riêng tư hoạ sĩ có những bế tắc, dẫn đến việc ông phải ly thân với Olga Kokhlova vào năm 1935 để đến với cô người mẫu tóc vàng Marie Walter.
 
Cũng chính bởi có nhiều phụ nữ đã đi qua cuộc đời nên ngay từ khi Picasso còn sống cũng như sau khi ông qua đời đã xảy ra nhiều chuyện rắc rối xung quanh những người thừa kế. Trong cuốn hồi ký của cô cháu gái Marina Picasso (Marina là cháu gái của Picasso với người vợ đầu tiên Olga Kokhlova), Picasso được mô tả như một kẻ độc ác đến nỗi vì ông mà cha đẻ của Marina là Paul Picasso đã phải tự vẫn một cách bi thảm. Nhưng Olivie Vidmaier Picasso, một người cháu khác của Picasso (mẹ của Vidmaier là con gái bà Marie Walter, người tình của hoạ sĩ) trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây đã bác bỏ quan điểm của Marina. Theo Vidmaier, bố Marina bị bệnh thần kinh, đã phải điều trị nhiều năm và việc ông tự sát không thể đổ lỗi cho Picasso. Thực ra, có thời kỳ một số người thừa kế của họa sĩ gặp hết tai hoạ này đến tai hoạ khác: năm 1977 Marie Walter tự vẫn; năm 1986 người vợ thứ hai là Jacqueline Roque cũng tự kết liễu cuộc đời. Chính vào thời kỳ này, Vidmaier với tư cách là một luật sư và là cháu của hoạ sĩ được những người trong họ mời đứng ra thu xếp các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ của Picasso. Trong cuốn sách của mình, Vidmaier viết: Người ta dễ liên tưởng đến một hình ảnh Picasso trụy lạc khi nhớ đến số phụ nữ mà ông đã yêu trong 80 năm. Nhưng thực ra ông đã yêu họ một cách chân thành. Tình ái luôn là một phần không thể tách rời khỏi hoạt động sáng tạo của Picasso. Phụ nữ đối với ông giống như màu nước đối với bút lông, như một cái gì đó không thể tách rời. Về chuyện vật chất, Vidmaier khẳng định, Picasso đã giúp đỡ cho tất cả những người thân quen đến tận cuối đời. Khi cuốn sách được in ra, Vidmaier đã nhận được sự ủng hộ không chỉ của mẹ ruột mà của cả những người khác trong dòng họ Picasso, trừ Marina.

Việc phân chia từng giai đoạn sáng tác của Picasso cũng phần nào khiên cưỡng, máy móc. Bởi vì, Picasso là một thiên tài hội hoạ. Ông đã từng nghiên cứu, thử nghiệm khá nhiều phong cách, trường phái, như: Cổ điển, Hiện Thực, Biểu Hiện, Linh Cảm, Siêu Thực…

Và, khi đạt đến đỉnh cao ở mỗi trường phái, phong cách, Picasso lại từ bỏ cái cũ để đi tìm “những chân trời mới” của nghệ thuật. Không chỉ là một hoạ sĩ tài hoa, Picasso còn là một nhà điêu khắc, nhà đồ hoạ, thợ đồ gốm…


Điều đáng nói, cũng như hội hoạ ngay cả ở những lĩnh vực trên Picasso cũng tỏ ra xuất sắc. Ông chính là người đầu tiên thực hiện tác phẩm điêu khắc bằng phương pháp ghép nối các chất liệu, thay vì chạm, khắc, tạc hay đổ khuôn truyền thống.


Thậm chí, ngay cả ở lĩnh vực minh hoạ, hiếm có hoạ sĩ nào như Picasso minh hoạ nhiều sách và để lại dấu ấn thiên tài của mình trong “những tác phẩm nhỏ nhặt”.



Không chỉ là một Đại danh hoạ, Pablo Picasso còn là chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho HOÀ BÌNH,TỰ DO và TIẾN BỘ XÃ HỘI. Bằng tài năng và trí tuệ của mình, Picasso luôn đứng về phía nhân dân lao động, những người cùng khổ và đấu tranh chống lại áp bức, bất công, chống lại chủ nghĩa phát xít, đế quốc.


Năm 1937, tại Paris diễn ra một Triển lãm Quốc tế. Picasso được đặt vẽ cho gian hàng của Tây Ban Nha. Từ sự kiện phát xít Đức ném bom huỷ diệt thị trấn Guernicacủa xứ Basque quê hương ông ngày 26/4/1937, Picasso vô cùng đau đớn và căm thù.


Ông lấy ngay “sự kiện Guernica” làm đề tài để thực hiện một bức tranh hoành tráng rộng tới 30 m2. Bằng ngôn ngữ của nghệ thuật Lập Thể và Biểu Tượng, Picasso đã thể hiện trong tác phẩm này hình tượng của những thiếu phụ bồng con gục ngã, những bàn tay chới với tuyệt vọng, những hình thể quằn quại như gào thét và đối lập lại là những cái đầu bò, thân ngựa quái gở, đang dày xéo, dẫm đạp lên những thân hình quằn quại…



Qua “Guernica”, Picasso tỏ rõ thái độ phỉ nhổ vào chiến tranh và dự báo một thảm cảnh mà bọn phát xít sẽ gây ra cho nhân loại. Sau đó, chính Picasso trở thành một chiến sĩ của lực lượng những người kháng chiến Pháp chống lại phát xít Đức.

Năm 1944, Picasso trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Ông tuyên bố: “Lý tưởng của những người cộng sản về một thế giới tươi đẹp phù hợp với nghệ thuật của tôi”. Kể từ đó, Picasso trở thành một trong những chiến sĩ – “Sứ giả hoà bình” tiêu biểu của thế giới.


Bằng ngôn ngữ hội hoạ, Picasso tố cáo, lên án chiến tranh, ca ngợi hoà bình. Đối với Việt Nam, Đại danh hoạ Pablo Picasso có một tình cảm hết sức đặc biệt. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi. Picasso đã xúc động vẽ tặng nhân dân ta bức tranh “Chúc mừng hoà bình thắng lợi”.


Tiếp đó, khi Mỹ xâm lược Việt Nam, Picasso đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa và dùng ngôn ngữ hội hoạ để biểu thị tình cảm của mình đối với nhân dân Việt Nam.


Đáng lưu ý, năm 1968, tại Hội nghị trí thức toàn Châu Âu, Đại danh hoạ Picasso đã trực tiếp lên diễn đàn cực lực phản đối cuộc xâm lược Việt Nam của Mỹ và kêu gọi: “Tất cả nghệ thuật hiện đại Châu Âu đứng về phía Việt Nam!”.


Ngoài ra, Năm 1951, Picasso còn vẽ tác phẩm “Tàn sát ở Triều Tiên” – tố cáo cuộc chiến tranh ở Triều Tiên. Tiếp đó (1952), Picasso cho ra đời tác phẩm liên hoàn “Chiến tranh và Hoà bình”.


Nhắc đến 2 tiếng HOÀ BÌNH, chắc hẳn mọi người yêu nghệ thuật trên thế giới đều biết đến loạt tranh vẽ chim hoà bình nổi tiếng của Picasso. Chim bồ câu – biểu tượng của HOÀ BÌNH là đề tài mà Picasso ấp ủ từ thời niên thiếu.


Suốt nhiều năm, Picasso đã vẽ đi, vẽ lại hàng trăm bức tranh về chim bồ câu với loại đơn, đôi hoặc nhóm 3 con. Năm 1949, Đại Hội Hoà bình Thế giới tổ chức ở Roma (Italia). Tại Đại hội, tác phẩm “Chim bồ câu” của Picasso được chọn là Biểu tượng Hoà bình Thế giới.




Photo of www.congtruongit.com
Pablo Picasso là hoạ sĩ có khả năng lao động sáng tạo say mê đến mức kỷ lục. Theo các nhà nghiên cứu, trong suốt cuộc đời kéo dài gần một thế kỷ, ông đã sáng tác khoảng 60.000 tác phẩm các loại. Trước lúc qua đời, Picasso đã để lại khoảng 1.800 bức tranh, 1.300 tác phẩm điêu khắc, 7.000 bức vẽ và 700 tác phẩm gốm. Hiện nay Bảo tàng Picasso ở thủ đô Paris nước Pháp có bộ sưu tập lớn nhất thế giới gồm 5.000 tác phẩm gốc, 200.000 bức ảnh, bản chép tay và bản in của Picasso.
 
Pablo Picasso là hoạ sĩ có tranh được bán với giá kỷ lục, và cùng với thời gian chúng vẫn tiếp tục tăng lên. Bức tranh “Chàng trai ngậm tẩu” là một kiệt tác được hoạ sĩ sáng tác trong “Thời kỳ Hồng” vào năm 1904. Một trăm năm sau, tháng 5 năm 2004 đã được Hãng đấu giá Sotheby’s bán với giá 104 triệu USD. Năm 2006, bức “Nàng Dora Maar với chú mèo” vẽ năm 1941 được bán với giá 85 triệu USD. Năm 2000 trong cuộc bán đấu giá của Hãng Christie’s tại New York, bức tranh “Người phụ nữ khoanh tay” vẽ năm 1902 thuộc “Thời kỳ Xanh” được bán với giá 55,6 triệu USD. Năm 2007, bức “Người phụ nữ khom mình trong trang phục Thổ Nhĩ Kỳ” vẽ năm 1955 bán với giá 27,5 triệu USD, bức “Đầu người phụ nữ” được bán với giá 26 triệu USD. Chỉ tính riêng trong năm 2007, số tiền bán những tác phẩm của Picasso đã lên đến hơn 300 triệu USD. Theo đánh giá của các chuyên gia, tổng trị giá các tác phẩm của Picasso có thể vượt quá 1 tỉ USD.  
 
Cũng chính vì được coi là hoạ sĩ vĩ đại nhất thế kỷ XX, lại có số lượng tác phẩm khổng lồ, được bán với giá kỷ lục, nên Pablo Picasso cũng là hoạ sĩ có nhiều tác phẩm bị đánh cắp nhất. Theo số liệu không chính thức, số tranh của Picasso bị đánh cắp lên tới gần 500 bức. Vào năm 1991, có 9 bức tranh của Picasso bị đánh cắp từ lâu đài một tiểu vương ở Kowett trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh. Bức “rẻ nhất” là 1,5 triệu USD, bức “đắt nhất” là bức “Người đàn bà xấu xí” lên tới 15 triệu USD. Năm 1993, một số tranh của ông trong Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại ở Thủ đô Stockholm Thụy Điển bị đánh cắp được định giá là 500 triệu cuaron. Năm 1994, hai bức tranh “Người phụ nữ đang ngủ” và “Chúa Jesus ở Monmartre” trong Bảo tàng Max Bollag ở Thụy Sĩ bị đánh cắp trị giá khoảng 40 triệu USD. Hai bức tranh này đã một lần bị đánh cắp vào năm 1991 rồi tìm lại được. Tháng 10 năm 2004, Cục Điều tra Liên bang Mỹ ở Los Angeles đã thu giữ bức tranh “Người phụ nữ mặc đồ trắng” của Picasso vẽ năm 1922 đã bị bọn Đức Quốc xã đánh cắp trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ II, bức tranh được định giá là 10 triệu USD. Năm 2004 bức tranh “Tĩnh vật với chiếc mũ Charlotte” được Picasso vẽ năm 1924 theo phong cách Lập Thể bị đánh cắp khỏi Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại ở Paris, nhưng ngay năm sau bức tranh được truy tìm lại. Năm 2006, 3 bức tranh của các hoạ sĩ Picasso, Dali và Monet bị đánh cắp khỏi Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Rio-de-Janeiro Brazill, nhưng cảnh sát chỉ kịp phát hiện những mảnh cháy dở còn sót lại từ 3 bộ khung.

Trong quan hệ xã hội, Picasso có những người bạn là những văn nghệ sĩ vĩ đại nhất thế kỷ. Trong đó có hoạ sĩ Braque là bạn chí cốt đã cùng ông sáng lập ra trường phái Lập Thể, có hoạ sĩ Matisse là một bậc thầy trong trường phái Siêu Thực, có các nhà thơ tài năng của thế giới như Apollinaire, Aragon, Cocteau, Eluard, Breton… Họ đã viết lời đề tặng cho Picasso trong các tác phẩm của mình. 

Nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã dùng những ngôn từ đẹp nhất, hay nhất để ca ngợi nhà Đại danh hoạ: “Picasso – đứa con phi thường, ghê gớm của thế kỷ XX”, “Picasso – tia mặt trời không bao giờ tắt”, “Picasso – một vĩ nhân”.v.v.

Gần 40 năm đã trôi qua kể từ ngày Đại danh hoạ Pablo Picasso qua đời, song tên tuổi, sự nghiệp của ông vẫn sống mãi trong trái tim của hàng triệu người yêu nghệ thuật và hòa bình trên toàn thế giới.